sức khỏe tự nhiên, natural health

Proanthocyanidins trong hạt nho làm giảm Stress oxy hóa não ở chuột trưởng thành và trung niên

Mối bận tâm về sự già đi tăng lên ở những trường hợp suy giảm nhận thức do tuổi tác ở người. Nghiên cứu này đánh giá lợi ích của chất chống oxy hóa tự nhiên.

Sử dụng proanthocyanidin trong dịch chiết từ hạt nho để chống lại những ảnh hưởng của stress oxy hóa liên quan đến tuổi và sự tích lũy lipofuscin (LF) trên khả năng nhận thức ở chuột.

Chuột cái Wistar từ 3-12 tháng tuổi mỗi ngày cho uống bổ sung proanthocyanidin trong dịch chiết hạt nho đến 6-15 tháng tuổi. Trong suốt quá trình này, chuột được kiểm tra khả năng nhận thức của chúng. Kết thúc quá trình, glucose máu và những điểm oxy hóa được đánh giá ở đồi hải mã.

Nhóm chuột cho uống proanthocyanidin trong dịch chiết từ hạt nho có mức độ glucose máu, lipid peroxide, hydrogen peroxide thấp hơn và tăng lượng protein sulphydryl (P-SH) ở đồi hải mã. Thêm vào đó, proanthocyanidin trong dịch chiết từ hạt nho cải thiện đáng kể hiệu quả nhận thức ở 2 nhóm tuổi.

Kết quả này chứng minh rằng mức độ của sự oxy hóa liên quan đến sự tích lũy LF có thể giảm bớt bởi proanthocyanidin trong dịch chiết từ hạt nho. Điều này cũng gợi ý về vai trò then chốt của proanthocyanidin trong dịch chiết từ hạt nho, trong việc bảo vệ tế bào thần kinh ở đồi hải mã và ngăn chặn sự giảm nhận thức do tuổi tác.

Trong nghiên cứu này, không có bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào về trọng lượng cơ thể giữa chuột nhóm chứng và chuột thí nghiệm trong thời gian 12 tuần bổ sung GSPE.

Để đánh giá sự đáp ứng với GSPE trong việc thay đổi khả năng nhận thức của chuột, chúng tôi kiểm tra khả năng học qua bài tập xác định giới hạn thu nhận trong T-maze và bởi số thử nghiệm được yêu cầu để lựa chọn đúng 80% đến 90% (Hình 1).

Đối với chuột trưởng thành, nhóm bổ sung cho thấy có một tiến bộ dần dần trong việc học trong suốt ba thử nghiệm đầu (58%, 74%, 73%), và được đào tạo thêm để sự lựa chọn đúng tăng lên tối đa (85%) ở thử nghiệm thứ 4 (Hình 1A).

Sự ghi nhớ tối đa bài tập đã học được ghi lại sau khoảng thời gian 7 ngày (79%). Tỷ lệ phần trăm sự ghi nhớ vẫn còn đáng kể ở những con vật này ngay cả sau 14, 21 và 30 ngày (74%, 59% và 56%) so với nhóm không bổ sung (Hình 1B).

Đối với chuột trung niên, nhóm bổ sung cho thấy một tiềm năng học tập tốt hơn lần lượt là 42%, 74%, và 96% trong các thử nghiệm đầu tiên, thứ hai và thứ ba tương ứng.

Trong thử nghiệm thứ tư, nhóm bổ sung cho thấy khả năng học tập lên tới 98% (Hình 1C). GSPE có hiệu quả trong việc tăng cường sự ghi nhớ được minh chứng bởi phần trăm khả năng ghi nhớ (78%, 76% 75% và 66%), cao hơn so với nhóm không bổ sung (58%, 58%, 50% và 34%) sau 7, 14, 21 và 30 ngày tương ứng (Hình 1D).

Hydrogen peroxide tăng 2,2 lần ở nhóm chuột trung niên so với nhóm chuột trưởng thành. GSPE có hiệu quả hơn trong việc giảm sự sinh ra hydrogen peroxide ở chuột trung niên (46%) so với chuột trưởng thành (34%). Hoạt tính enzymes catalase tăng 29% ở chuột trung niên so với chuột trưởng thành (Bảng 1). GSPE giảm hoạt tính này lần lượt là 38% và 31% ở chuột trưởng thành và trung niên so với nhóm chứng tương ứng.

Ở nhóm chứng, mức độ MDA cao hơn 36% ở chuột trưởng thành và trung niên. Như đã biết ở não, thành phần chủ yếu là mỡ phải trải qua sự tăng lipid peroxy cùng với tuổi (Bagchi et al., 2002). MDA ở đồi hải mã cũng giảm 41% và 34,5% ở nhóm chuột trưởng thành và trung niên có bổ sung GSPE so với nhóm chứng, cho thấy GSPE làm giảm stress oxy hóa.

Mặt khác, lượng sulphydryl protein, một chất chống oxy hóa bảo vệ tế bào không thuộc enzym, tăng đáp ứng với GSPE ở nhóm chuột trưởng thành (84,18%) và trung niên (50,85%) (Bảng 1).

Bảng 1. So sánh các thông số stress oxy hóa ở chuột trung niên (12 tháng tuổi), chuột trưởng thành (3 tháng tuổi) giữa nhóm bổ sung GSPE (PA) với nhóm chứng (CON).

 Tuổi (tháng) Thông số stress oxy hóa
 MDA CAT  P-SH  H2O2
 CONa PAb CONa PAb  CONa PAb CONa PAb
 3A  1.57±0.10 0.93±0.15 29.78±1.0 18.41±1.5  10.0A±1.0 18.4±0.5 0.49±0.05 0.32±0.04
 12B  2.14±0.15 1.47±0.25 38.40±1.5 26.43±2.0  10.3A±0.5 24.6±1.0 1.12±0.03 0.61±0.02

 

Giá trị trung bình ± SE (5 con/nhóm). Hoạt tính Catalase (CAT) được thể hiện bởi mmol hydrogen peroxide (H2O2) bị thủy phân/phút/mg protein, malondialdehyde (MDA) thể hiện bởi nmol/mg protein, mức độ sulphydryl protein (P-SH) thể hiện bởi micromol/mg protein và giới hạn H2O2 nmol/mg protein. CON (nhóm chứng); PA (proanthocyanidin trong dịch chiết từ hạt nho). Ý nghĩa giữa hai nhóm tuổi được phân tích bằng hai cách ANOVA phương pháp thử nghiệm so sánh đa dạng của Tukey Kramer và được coi là có ý nghĩa ở mức P < 0.05. Ý nghĩa giữa các nghiên cứu được thể hiện bởi chữ (A, B) ở trên và giữa các nhóm được thể hiện bởi chữ (a, b) ở dưới. Thay đổi được coi là không có sự khác biệt đáng kể giữa các lứa tuổi và giữa các nhóm mặc dù kí tự giống nhau.

image001

Hình 1. Tỉ lệ phần trăm lựa chọn chính xác trong quá trình học tập (1A, 1C) và ghi nhớ (1B, 1 D) ở nhóm chuột 3 tháng tuổi và 12 tháng tuổi. Kí hiệu: CON (nhóm chứng), PA (nhóm có bổ sung proanthocyanidin trong dịch chiết từ hạt nho). Giá trị là trị số ± S.E. (n = 5 con/nhóm). Kiểm tra việc học được phân tích bằng hai cách ANOVA giữa các nghiên cứu và các nhóm theo phương pháp thử nghiệm so sánh đa dạng của Tukey Kramer và được coi là có ý nghĩa ở mức P<0,05. Ý nghĩa giữa các nghiên cứu được thể hiện bởi chữ (A, B) ở trên và giữa các nhóm được thể hiện bởi chữ (a, b) ở dưới. Sự khác biệt giữa các nghiên cứu và các nhóm là đáng kể ở mức P < 0,05. Thay đổi là khác nhau đáng kể giữa hai lứa tuổi và giữa hai nhóm.


move top